Tin Tức Và Ẩm Thực

Du Lịch Biển Đồng Châu Thái Bình

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực |

Chúng tôi đến vùng đất của “chị Hai năm tấn” đúng vào mùa gặt, rơm rạ phủ vàng hai bên đường còn sân nhà nào cũng vàng ươm một màu bởi thóc. Trong cảnh làng quê yên bình ấy, chúng tôi thi hát những bài ca về quê hương của từng thành viên trong đoàn. “Sẽ đưa em về thăm quê hương anh nơi Tiền Hải, nghe sóng biển Đồng Châu vui mê mải hát bốn mùa”…  là câu ca của các đồng hương Thái Bình khi muốn nói lên niềm tự hào của mỗi người dân khi nói về bãi biển Đồng Châu.

Kinh nghiệm du lịch biển Đồng Châu – bãi biển tuyệt đẹp tại Thái Bình

Khu du lịch Đồng Châu nằm cách thành phố Thái Bình chừng 40km, đi qua đoạn đường dẫn tới khu công nghiệp chuyên làm gốm sứ đầy bụi bặm và rất xấu, khi bắt đầu lên đường đê chắn sóng tức là đã vào tới bãi biển Đồng Châu. Ngoài bãi biển Đồng Châu với các khách sạn và nhà nghỉ, khu còn có cồn Vành và cồn Thủ dành cho du khách tham quan và tắm biển.

Kinh nghiệm du lịch biển Đồng Châu – bãi biển tuyệt đẹp tại Thái Bình
Bãi biển Đồng Châu là khu nuôi vạng (hay còn gọi là ngao) nổi tiếng. Kéo dài 8-10km trên biển, chúng tôi chỉ nhìn thấy các chòi canh ngao mọc lên như nấm. Ngao được lấy giống từ khắp đất nước hay tận Trung Quốc. Ngao nhà ai thả ngay dưới ô chòi nhà đó, không cần cho thức ăn gì mà chỉ chờ thủy triều lên, đưa phù du vào nuôi ngao. Ngao ở đây ngon cũng nhờ kiểu cho ăn tự nhiên ấy.

Bình minh trên bãi biển Đồng Châu

Một bên đê, ngoài những chòi canh vạng là các lán tiếp khách phục vụ khách ăn uống. Khi nghe giá mỗi lán tầm 100 triệu mà chúng tôi khá hốt hoảng. Nghe kể đợt trước có đoàn khách đốt lửa trại bên bờ biển, tàn lửa bay cháy theo gió lan tận 4 cái lán. Không rõ có phải sự thật hay chỉ là câu chuyện do người dân thêu dệt để các bạn trẻ không đốt lửa trại nữa. Nhưng dù sao, để tránh trường hợp đáng tiếc trên xảy ra, chúng tôi đã xin phép bác giám đốc khách sạn Đồng Châu được đốt lửa trại trong sân của khách sạn.

Mê như điếu đổ bãi biển Đồng Châu 'Phú Quốc thu nhỏ' ngay gần Hà Nội

Một bên đê là khách sạn, nhà nghỉ cho khách du lịch hoặc là nhà dân, đôi khi chúng tôi bắt gặp những đầm nuôi thủy sản của người dân.Chúng tôi đến Đồng Châu vào ngày “con nước 9”. Nước lớn và ngao lên cùng nhau. Ngao bị nhiều cát vào, khi ăn phải có bát nước bên cạnh để tráng ngao. Nhưng cũng nhờ nước lớn mà không chỉ ngao mà các loài hải sản cũng ngon hơn mọi khi.

Hai ngày lưu trú tại đây, chúng tôi được ăn những món ăn dân dã và thưởng thức hải sản. So với các khu du lịch biển khác, một bữa ăn tại Đồng Châu không cao giá mà chúng tôi được thưởng thức nhiều món ăn hơn. Và sự thân thiện của bác giám đốc cũng như các anh chị phục vụ khiến chúng tôi sẽ nhớ mãi.

Bãi biển Đồng Châu | Youvivu Travel Channel

Nằm cách Đồng Châu chừng 20km đường đê, qua nhiều rặng phi lao lớn nhỏ, chúng tôi ra tới cồn Vành để tắm biển. Ở đây chưa hề có cư dân sinh sống, chỉ có một số hộ dân vùng lân cận tới để nuôi trồng thủy hải sản và kinh doanh hàng quán nhỏ. Tuy nhiên, chỉ trong vài năm tới, đây chắc chắn sẽ trở thành khu du lịch sang trọng khi 2/3 diện tích cồn đã được bàn giao xây dựng các khu nghỉ dưỡng nhằm phục vụ khách du lịch.

Cũng giống như Đồng Châu, cồn Vành gây ấn tượng bởi những chòi trên biển. Ở bãi biển Đồng Châu là chòi canh vạng thì ở đây là chòi dành cho khách tắm biển nghỉ ngơi và thưởng thức hải sản. Bãi biển rộng, dài, cát mịn, nước trong, chúng tôi đã tổ chức rất nhiều trò chơi vận động trên bãi biển. Đồng Châu không còn nơi chỉ dành cho nghỉ dưỡng như tôi nghĩ lúc đầu nữa. Nắng, gió, biển, đặc biệt là con người Đồng Châu không có gì để phàn nàn. Chúng tôi hy vọng sẽ sớm quay trở lại vào một ngày.

Đền Tiên La Tại Thái Bình

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực |

Trong đời sống tâm linh của người Việt, tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian phổ biến nhất. Từ nhiều thập kỷ qua, giới nghiên cứu tín ngưỡng dân gian trong và ngoài nước đều thống nhất nhận định: tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian giàu tố chất nhân văn độc đáo của Việt Nam.

Thái Bình] Đền Tiên La - Nơi Tưởng Nhớ Vị Nữ Tướng Quân Của Mãnh đất Thái  Bình - Khám Phá Di Sản - Thông Tin Du Lịch Việt Nam

Thuở trước, dường như làng xã nào ở châu thổ Bắc Bộ cũng có các thiết chế thờ Thánh Mẫu. Ngoài Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thiên (Mẹ của trời), Mẫu Thoải (Mẹ của nước), Mẫu Ðịa (Mẹ của đất), Mẫu Thượng Ngàn (Mẹ của rừng)…, còn có các vị Thánh Mẫu là những nhân thần với lai lịch khác nhau. Theo tâm thức “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, hội Phủ Giầy (Nam Ðịnh) và hội đền Tiên La (Thái Bình) là hai tâm điểm của tục thờ Thánh Mẫu.

Đền Tiên La | Youvivu Travel Channel

Ðền Tiên La từng được coi là một thắng cảnh giữa đồng bằng, là một trong số ít ngôi đền có kiến trúc đá đồ sộ bậc nhất vùng châu thổ sông Hồng. Sự độc đáo của nghệ thuật kiến trúc và thế đất thiêng huyền bí của gò Kim Quy, nơi tọa lạc của ngôi đền đã tạo ra sự cộng hưởng diệu huyền, có sức hút khôn lường du khách muôn phương tìm về như một sự hội tụ các giá trị nhân văn trong tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu của người Việt.

ĐỀN TIÊN LA - THÁI BÌNH - TƯ LIỆU FULLHD - YouTube

Theo thần tích thì bà chúa được thờ ở đền Tiên La tên là Vũ Thị Thục, sống vào thời thuộc Hán ở trang Phượng Lâu (Phù Ninh, Phú Thọ), đã đính hôn với con trai huyện trưởng Chu Diên (huyện, quận Chu Diên thời thuộc Hán nay thuộc đất Nam Ðịnh, Thái Bình, Hưng Yên và một số vùng phụ cận). Thấy nàng nhan sắc, sau khi ép nàng làm vợ nhưng bị cự tuyệt, Tô Ðịnh đã nổi giận tàn sát bố mẹ nàng và triệt hạ trang Phượng Lâu. Thục nương được gia nhân che chở, xuống thuyền xuôi dòng sông Hồng rồi dừng thuyền ở vùng đất này khởi binh chống Hán trả thù nhà đền nợ nước.

Đền Tiên La xã Đoan Hùng huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình - YouTube

Khi đã thu phục hiền tài trong vùng, xây dựng vùng Tiên La thành cứ hiểm, Vũ Thị Thục đã đưa cả lực lượng tham gia chiến đấu dưới cờ của Hai Bà Trưng, được phong là Ðông Nhung đại tướng quân, lập được nhiều võ công diệt giặc Hán. Cuối cùng, vì thế giặc mạnh, bà đã tự sát tại gò Kim Quy. Chính tại nơi bà tuẫn tiết, nhân dân đã dựng đền Tiên La để muôn đời tưởng niệm. Cùng với hội đền Tiên La được mở từ mùng 10 đến 20 tháng ba, hội làng của các làng trong vùng cũng được mở vào dịp này. Hệ thống miếu, đền của nhiều làng thuộc Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư thờ tướng lĩnh của bà chúa Tiên La được mở làm cho không khí “giỗ mẹ tháng ba” sôi động hơn với tâm thức nhớ về thuở chống Hán buổi đầu Công nguyên mà hội đền Tiên La là một trung tâm.

đền Tiên La

Theo định lệ, hội đền Tiên La được khai hội vào ngày mùng 10, chính hội vào những ngày 17 và 18 tháng ba. Càng về những năm gần đây thì hội đền Tiên La năm sau càng đông hơn năm trước. Du khách từ nhiều nơi trong và ngoài nước đổ về vừa với tâm thức tưởng niệm bà chúa có đức thiêng vừa để thưởng ngoạn một công trình kiến trúc cổ quý hiếm bên dòng sông Tiên Hưng với cảnh quan thơ mộng. Trên các ngả đường đổ về trảy hội đền Tiên La, du khách còn có thể dự hàng chục hội làng khác có tục thờ Thánh Mẫu diễn ra trong cùng thời điểm nhưng sự lệ, trò chơi, trò diễn dân gian mỗi hội mỗi vẻ.

Là vùng quê hội tụ cư dân từ nhiều vùng miền đổ về hợp cư nên tục thờ Thánh Mẫu ở Thái Bình được xem là phổ biến nhất, phong phú nhất. Nếu không kể đến những am, phủ, điện thờ Mẫu ở các tư gia thì dường như không có làng xã nào không có đền Mẫu, phủ Mẫu trong quần thể đình, đền, chùa, miếu của làng.

Qua danh mục thần tích, thần sắc và khảo sát từ thực tế có thể biết được, ở các làng quê trong tỉnh có tới hàng trăm vị Thánh Mẫu có lai lịch khác nhau. Có vị là thiên thần, có vị là nhân thần. Có vị được thờ ở nhiều làng quê trong cả nước nhưng cũng có khá nhiều vị chỉ được một làng hoặc một vài làng thờ phụng. Có vị được phong làm thành hoàng, được thờ tại đình làng nhưng cũng có vị được thờ làm phúc thần, có đền, miếu, am, phủ, điện thờ theo điển lệ tế tự riêng hoặc được phối thờ tại các thiết chế tín ngưỡng chung của làng.

đền Tiên La

Thuở trước, ở Thái Bình, dường như làng nào cũng thờ Mẫu Liễu Hạnh. Hàng trăm làng dựng đền, am, phủ, điện thờ riêng, còn lại là phối thờ. Ðiều dễ nhận thấy là ở những phủ thờ Mẫu Liễu Hạnh thường phối thờ Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn. Có những nơi phối thờ Thiên phủ, Thoải phủ và Ðức Thánh Trần, đến nay vẫn là những trung tâm hầu bóng hát văn lớn ở Thái Bình như đền Ðồng Bằng (Quỳnh Phụ), đền Tiên La (Hưng Hà), đền Tam Tòa (Thái Thụy), đền Phú Hà (Hưng Hà)…

Xét theo thần tích thì lai lịch của các vị Thánh Mẫu là nhân thần được thờ ở các làng xã trong tỉnh thật phong phú. Có một số làng thờ Mẫu Âu Cơ, có khá nhiều làng thờ Thánh Mẫu công chúa của các đời vua Hùng, một số làng thờ các nữ tướng thời Hai Bà Trưng, còn lại khá nhiều làng thờ các vị hoàng hậu, công chúa từ thời Lý, Trần (nhiều hơn cả là các công chúa thời Trần); một số làng nghề thờ nữ thần là tổ nghề như tổ nghề gai vó, tổ nghề đan giành, tổ nghề bèo dâu…

Tục thờ Mẫu thường gắn với nghi thức hầu bóng hát văn trong các tiết lệ và thường được tổ chức có quy mô, bài bản ở  những nơi có thờ tam phủ, tứ phủ. Có thể kể đến một số trung tâm hầu bóng hát văn lớn hiện đang thu hút các gánh đồng ở nhiều vùng miền trong cả nước về chầu hầu như đền Ðồng Bằng (Quỳnh Phụ), đền Tiên La (Hưng Hà), đền Cửa Lân (Tiền Hải), đền Chòi (Thái Thụy), đền Phú Hà (Hưng Hà), đền Hệ (Thái Thụy), đền Mộ Ðạo (Kiến Xương)…

Cho đến nay, nghi lễ hầu bóng hát văn ở Việt Nam đang từng bước được khẳng định là một loại hình diễn xướng dân gian nhưng với khá nhiều nơi, trong không gian thiêng thờ Thánh Mẫu, nghi thức này thường vẫn phải hoạt động trong tình trạng “bán công khai” vì nhiều cơ quan quản lý các cấp vẫn dè dặt cho là chưa có văn bản chính thức nào của nhà nước chấp thuận.

Nguyễn Thanh

Vũ Quý, Kiến Xương

Đến Thái Bình Ngắm Cồn Biển Lung Linh

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực |
Khu du lịch sinh thái Cồn Vành cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 25km về phía Đông, cách thủ đô Hà Nội 150km, thuộc xã Nam Phú, huyện Tiền Hải. Cồn Vành đến thời điểm này vẫn giữ nguyên được nét hoang sơ sẵn có.
Nằm ở cửa sông Ba Lạt, nơi sông Hồng hòa vào biển cả, Cồn này là bãi sa bồi rộng gần 2.000ha, với địa hình tương đối bằng phẳng, thuộc Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (đã được UNESCO công nhận vào tháng 12/2004).

 Vẻ đẹp hoang sơ của biển Cồn Vành – Thái Bình
Cồn Vành ở Thái Bình có hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển khá phong phú với các loài thực vật đặc trưng như sú, vẹt, bần, thông… bao phủ một vùng rộng lớn, trở thành nơi cư trú của nhiều loài chim như cò thìa, bồ nông, mòng biển…; trên 200 loài hải sản và khoảng 170 loài tảo có giá trị kinh tế.
Bãi tắm Cồn Vành Thái Bình trải dài khoảng 6km, được bao quanh bởi rặng phi lao xanh mát, điểm tô những thảm hoa muống biển khoe sắc tím mộng mơ. Bờ cát nơi đây mịn màng, thoai thoải, mực nước không sâu, sóng vừa phải, lý tưởng cho du khách đắm mình trong làn nước mát.
Trên bờ là các dãy bàn ghế, ô dù màu sắc… đáp ứng nhu cầu tắm biển, vui chơi, vừa làm chỗ cho khách ngả lưng thư giãn. Xen lẫn là các hàng ăn vặt, hay các quầy bán đồ lưu niệm làm từ vỏ ốc, vỏ sò đẹp mắt mà bạn có thể mua về làm quà sau chuyến đi khu du lịch biển Cồn Vành Thái Bình.

Con đường phi lao tuyệt đẹp ở Cồn Vành
Nơi đây cũng gây ấn tượng bình dị với những quán ăn làm bằng tre nứa, được dựng cao hẳn trên bờ biển thoáng mát, phục vụ thực khách các loại hải sản tươi ngon như: ngao, phi phi, bề bề, tôm sú, cua, ghẹ, cá bớp, cá vược, cá song… tươi rói và có giá cả phải chăng.
Ngoài ra, thả bộ dọc bãi biển Cồn Vành Thái Bình theo hướng Nam một đoạn là đến ngọn Hải đăng Ba Lạt, nơi bạn có thể leo lên 10 tầng cao, ngắm nhìn toàn cảnh nên thơ hữu tình, cảm nhận sự mênh mông của biển trời vời vợi, của những con sóng vỗ bờ, đắp cát ngày đêm không mỏi. Và khi màn đêm buông xuống, bạn có thể nghỉ ngơi tại các khách sạn, nhà nghỉ ở Cồn Vành, cũng khá đầy đủ tiện nghi. Để rồi sáng hôm sau dậy sớm, ngắm bình minh huyền ảo như “dát vàng” trên mặt biển bao la, hay cùng ngư dân nhộn nhịp chuyến đón tàu về, tôm cá đầy khoang. Đến với Cồn Vành, du khách được tắm mình dưới nắng gió biển khơi, đi bộ trong rừng thông, lắng nghe tiếng gió rì rào, thưởng thức hải sản tươi ngon tại các nhà hàng vươn mình ra trước biển.

Chùa Keo Thái Bình, Di Sản Văn Hóa

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực |
Ngôi chùa hơn 400 năm tuổi, một trong những công trình kiến trúc chùa đẹp nhất Việt Nam, sẽ là điểm dừng chân thú vị với du khách ghé thăm Thái Bình.Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình được khởi công xây dựng từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê. Đây là một trong số ít những ngôi chùa cổ ở Việt Nam còn lưu giữ được hầu như nguyên vẹn kiến trúc xưa.
Bước vào bên trong chùa là gian Tiền đường lợp mái ngói, được chống đỡ bằng những cột gỗ lim lớn rất chắc chắn. Trước mặt Tiền đường là thảm cỏ xanh mướt, với những hàng cau cảnh nhỏ bên cạnh. Hai bên hành lang là hai bia đá cổ, khắc ghi lịch sử xây dựng của chùa.

Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng khoảng 58.000 m2, gồm nhiều ngôi nhà làm thành những cụm kiến trúc khác nhau. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu “Nội công ngoại quốc”.

Hai bên là dãy hành lang dẫn tới các gian thờ. Dãy hành lang này cũng được lợp mái ngói và chống bằng cột gỗ lim, rất ấn tượng. Những con đường lát đá sẽ đưa bạn đến gian thờ Phật, Thánh, gian thờ Tổ và tháp chuông.

Những gian nhà được xếp nối nhau, bên trên đỉnh chóp mái ngói là hoa văn cách điệu hình tượng “cá chép hóa rồng”. Gác chuông chùa Keo với bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam. Bộ cánh cửa chạm rồng là bộ cửa độc đáo của cả nước. Chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng Pháp và đồ tế thời Lê. Có thể nói Chùa Keo là một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ XVII, với nhiều kiệt tác đặc sắc.

Bên cạnh kiến trúc cổ, chùa Keo còn lưu giữ rất nhiều pho tượng lâu đời. Nguyên vật liệu chủ yếu dùng để xây chùa là gỗ, gạch ngói và đá. Trải qua bao thăng trầm, biến cố của thời gian, ngôi chùa vẫn toát lên vẻ cổ kính, vững chắc với thời gian. Trải qua 400 năm những hoa văn kiến trúc thời nhà Lê vẫn còn được bảo tồn. Với những giá trị lịch sử, văn hóa, chùa Keo được nhà nước xếp hạng là “Di tích Quốc gia đặc biệt”. Hằng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng Âm lịch, nhân dân làng Keo lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa mang tên làng. Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 Âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu.

Những Món Ngon Tại Thái Bình

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực |

Thái Bình sản sinh ra những đặc sản bình dị, đơn sơ như chính con người nơi đây.

Không mang vẻ hùng vĩ, rợn ngợp như nhiều địa danh khác trên dải đất hình chữ S, quê lúa Thái Bình hiền hòa như chính cái tên của mình. Khắp tỉnh đều mượt mà đồng ruộng bằng phẳng, nhiều sông ngòi hồ ao và khí hậu mát mẻ. Điểm cuốn hút của Thái Bình là những di tích lịch sử và văn hóa, các lễ hội, trò chơi, điệu múa dân gian hấp dẫn. Đặc biệt, Thái Bình có riêng nhiều món ăn ngon, lành như cốm làng Thanh Hương, canh cá Quỳnh Côi, ổi Bo, bánh cáy…

Bánh cáy làng Nguyễn

Từ xưa, bánh cáy làng Nguyễn đã nổi tiếng bởi là đặc sản từng dâng lên vua. Vua khen ngon, dân khen ngon khiến bánh cáy nức tiếng truyền xa cho đến tận ngày hôm nay.

Nguyên liệu làm bánh thì nhiều nhưng quy chung, bánh cáy nhất định cần gạo nếp, gấc, quả dành dành, lạc, vừng, cà rốt, gừng, vỏ quýt, mỡ lợn… Sau một loạt các khâu phức tạp, bánh cáy thành phẩm có hình dạng khá mộc mạc với lớp vừng dày ở ngoài, điểm xuyết trong bột nếp là những màu vàng vàng, cam cam, trắng trắng.

Bánh cáy – đặc sản Thái Bình – ăn vào thấy dẻo thơm quyện nếp, lại có hương gừng ấm, vị ngọt của đường mía, mạch nha, thỉnh thoảng chộn rộn chút bỏng nếp hoa vàng hay mỡ lợn khẩu muối đường giòn trong…

Bánh cáy là thức quà ngon có thể để dành lâu thật lâu. Nhằm buổi chiều chiều cắt bánh cáy thành từng miếng mỏng, pha ấm trà thơm rồi ngồi nhâm nhi cùng bạn hữu, gia đình sẽ cảm nhận hết cái ngon và độc đáo của món quý tiến vua.

Cốm Thanh Hương

Làng Thanh Hương, xã Đồng Thanh có loại cốm nổi tiếng khắp xa gần. Khi xưa, người ta làm cốm như kết tinh của công sức lao động con cháu thắp hương tiên tổ. Sau này, cốm Thanh Hương dần nổi tiếng, dân làm để bán cho khách khắp nơi, quảng bá một món đặc sản quê lúa.

Cũng như làng cốm khác, người làm cốm nơi đây chọn nhặt từ lúa nếp không non quá mà cũng không già quá, qua quá trình gặt, tuốt, sàng sẩy, giã… cho ra từng hạt cốm nõn nà, trăm hạt như một. Ngay màu xanh mát của cốm cũng từ thiên nhiên xung quanh. Nước cốt lá nếp, lá lúa, lá gừng hoặc lá cau cho ra màu tươi đẹp mà tuyệt đối an toàn.

Tuy nhiên, qua thời gian, thay vì hoàn toàn thủ công, nay cốm Thanh Hương phần nhiều do máy móc làm thành. Dù vậy, mùi thơm man mát vẫn ngự trị trong từng gói cốm bọc lá sen. Cốm ăn cùng chuối chín hay cứ thế nhón từng tí nhấm nháp khi chuyện trò lúc nào cũng ngon. Vị bùi bùi hương lúa, dẻo mà không quá dính của nếp non hòa lẫn với mùi sen mát luôn đem lại cảm giác dễ chịu và thanh thản cho người thưởng thức.

Canh cá Quỳnh Côi

Đặc biệt từ cái tên gọi, canh cá Quỳnh Côi – đặc sản Thái Bình – là món ăn không thể không nhắc đến hay nếm thử khi qua “quê hương của chị Hai 5 tấn”. Gọi canh cá nhưng đây lại là món ăn như bún, phở chứ không phải món kèm cơm. Món ăn nhìn tưởng đơn giản mà khá tốn công với nhiều bước đòi hỏi sự khéo léo của đầu bếp.

Cá được làm sạch, lóc xương, thái miếng dày vừa ăn, ướp ngấm gia vị rồi đem nướng chín tới. Tiếp đến, lại chiên cá đã nướng cho đến khi vàng ruộm. Còn phần cá gần vây được băm nhuyễn với hành khô, tiêu, ớt thật kỹ rồi nặn thành viên đem chiên vàng giòn. Đầu, xương sống cá không bỏ đi mà đem ninh làm nước dùng.

Bát canh cá thay vì sử dụng bún, phở, lại được người Thái Bình chọn riêng cho loại thực phẩm sợi mềm ngọt, mịn, dai – bánh đa, tạo dấu ấn cho canh cá Quỳnh Côi mà không món ăn nào khác có được.

Ngày lạnh qua hàng bán canh cá này thì khó mà lướt đi, khó mà không dừng lại để hít hà vị thơm từ các nguyên liệu đồng quê chế biến kỳ công. Những miếng cá ngon vừa thơm, vừa bùi bùi, khác lạ hay miếng chả cả giòn bông, cay cay cuốn hút cạnh vị nước dùng ngun ngút khói rất hợp với rau thì là, hành lá xắt nhỏ. Giữa những hương vị đặc biệt ấy, bánh đa giản dị làm ấm lòng người quê lẫn khách nơi xa. Rau rút, rau cải cần, rau cúc tần… tùy mùa càng làm đa dạng và thanh vị cho món ăn.

Gỏi nhệch

Nhệch là tên một loại cá có hình dáng tương tự như lươn. Người ta cũng dùng tro để làm sạch nhớt trên mình nó rồi mới làm thành món ăn như kho, nấu canh chua, om… Đặc biệt là gỏi nhệch.

Sau khi sơ chế, cá được cắt lát mỏng, trộn thính. Phần da cũng cắt thành miếng chiên giòn. Còn xương cá được giã nhuyễn, nấu thành thứ nước chấm có tên đặc biệt không kém tên cá – chẻo. Chẻo nấu xong, pha với gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, sả băm nhỏ.

Gỏi nhệch ăn kèm rau chanh, lá sung, rau húng, tía tô. Cứ cầm lá sung gắp miếng gỏi, cho thêm tí da, cuốn lại chặt tay rồi chấm vào chẻo là đủ thấy món ăn dân giã đến độ nào. Vị bùi bùi của lá sung cùng với thịt cá ngon, béo béo da, thơm lừng thính từ gạo rang, quyện đậm đà với chẻo cay cay nồng nồng khiến gỏi nhệch ngày càng được ưa chuộng.

Ổi Bo

Dù giờ đây, để nếm được ổi Bo gốc cũng không đơn giản nhưng loại trái cây này vẫn nức tiếng gần xa. Ổi Bo – đặc sản Thái Bình – nhỏ thôi, chừng cỡ nắm tay nhưng rốn bé tí lại ngon như bao nhiêu tinh túy của đất đều chắt lọc, giữ riêng cho mình. Có điều đặc biệt là ổi Bo trồng ở Thái Bình mới thơm, giòn và ẩn chứa các tầng vị khác nhau: chát, chua dịu rồi mới đến ngọt mát như vậy. Cùng giống mà đem trồng nơi địa phương khác cũng không thể có đúng vị ổi Bo.

 

Tiếc rằng ổi Bo năng suất và hiệu quả kinh tế không cao nên diện tích trồng đã bị thu hẹp đi nhiều, khách muốn tận hưởng vị riêng cũng khó tìm dù đứng ngay trên quê gốc của giống cây đặc sản.

Thịt chuột

Vốn nổi danh là đất lúa cho nên Thái Bình cũng là nơi sản sinh ra số lượng chuột đồng đông đảo. Từ loài gặm nhấm, phá hoại mùa màng này, người dân nơi đây sớm đã tận dụng chúng, biến thành những món ăn đặc sản mà nhiều khách phương xa lỡ có nếm thử một lần cũng bao phần thích thú.

Sau khi bắt được chuột, người ta tiến hành làm sạch lông, mổ lấy ruột, bỏ chân, bỏ đầu rồi đem chế biến. Những con chuột béo tròn được thui trên lửa rơm mỡ chảy xèo xèo. Sau đó phần thân được chặt nhỏ, cho các loại gia vị: mắm, muối (vừa phải), hạt tiêu bắc, riềng, gừng, sả, đem trộn đều rồi cho ít nước vào và đổ vào nồi rồi bắc bếp đun sôi, phải nấu cho thật nhừ. Sau đó múc ra bát để nguội (như nấu thịt lợn đông). Ngoài ra, người ta còn chế biến chuột thành các món ăn khác nhau như canh chuột, chuột nướng, chuột ép lá ré… Hãy cứ thử tưởng tượng, giữa cánh đồng quê lúa mơn man, khí trời thoáng đãng, hữu tình, cùng bạn bè nhâm nhi những món ngon từ thịt chuột thì dễ mấy ai có thể quên.

(Theo Eva)

Đặc Sản Cà Ra Tại Thái Bình

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực |

Nếu bạn đã từng ghé qua Thái Bình chắc hẳn bạn đã nghe nói đến loại cua rất đặc biệt có tên gọi cua Cà ra. Loại cua sông này có vị ngọt thơm đặc trưng không giống như những loại cua ghẹ khác, khiến bất cứ ai đã một lần thưởng thức sẽ không bao giờ quên.

“Cua tháng ba, cà ra tháng tám” là thời điểm Cà ra chớm mùa nhưng Cà ra thực sự rộ nhất là vào tháng chín và tháng mười âm lịch. Đây là thời gian Cà ra béo ngậy và thơm ngon nhất. Một con cua Cà ra to có thể có trọng lượng lên đến 200g. Mùa cà ra ở Thái Bình bắt đầu khi tiết trời chuyển từ thu sang đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Cà ra có người còn gọi là cua lông, có hình dáng gần giống như con rạm vùng đồng bằng nhưng to hơn nhiều, Hiện cà ra chỉ tồn tại trong tự nhiên, chưa ai nuôi được. Sông Trà Lý đầy nét hoang dã, là nơi sinh sống của cà ra.


Xã hồng tiến huyện Kiến Xương là nơi có nhiều người làm nghề bắt cà ra theo mùa, 
cà ra chỉ tập trung sống nhiều ở vùng cửa biển, khi có nước biển tràn vào thì mang vị mặn, nhưng khi nước biển rút thì vẫn là nước ngọt. Cà ra rất kén môi trường sống, nên hầu như chúng chỉ có nhiều ở vùng này vì môi trường sống còn thích hợp.

Cua Cà ra được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như cua rang me, cua hấp… nhưng món lẩu cua Cà ra thực sự là món ăn nếu bạn đã ăn một lần sẽ muốn ăn tiếp. Cũng là nước lẩu thơm ngon, vàng óng với vị chua thanh dịu của dấm bỗng và ngọt ngào của gạch cua, nhưng đặc biệt hơn là bạn sẽ được thưởng thức thịt cua Cà ra béo ngậy trong nồi lẩu nghi ngút hương thơm. Cua được thả vào nồi nước lẩu khi vẫn còn sống. Do vỏ cua mềm nên rất nhanh chín và khi ăn không cần dùng đến kìm kẹp như khi bạn ăn các loại cua ghẹ khác.

Cà ra thường làm hang ở chỗ nước sâu cả chục mét hay trong các kè đá. Lòng sông thì phù sa đục ngầu nên chỉ có giác quan thứ sáu của thợ săn mới đoán định được vệt chúng đi. Khúc sông nào sâu nhưng nước không chảy mà chỉ vật loanh quanh là chỗ cà ra thích nằm nghỉ ngơi nhất. Loài cua này có tập tính đi ăn đêm nên bát quái phải thả từ trưa hôm trước đến sáng hôm sau mới nhấc.

Giá Bán cà ra khi xưa cũng rất rẻ, thậm chí mời mọc mỏi mồm, gãy lưỡi cũng chẳng ai mua.Vài năm gần đây cà ra bỗng dưng thành đặc sản, giá một cân cua sông từ 200.000 – 300.000 đồng tùy to nhỏ nhưng không phải cứ có tiền là kiếm được. trong đồng thì nông dân vãi thuốc sâu, phân hóa học nên cà ra thành ra tuyệt tích,còn dưới lòng sông ngư dân kích điện tràn lan khiến chúng chẳng kịp sinh sôi.

Như vậy để cà ra tồn tại và phát triển, đem lại một nguồn lợi không nhỏ cho người làm nghề, cũng như tạo ra nét rất riêng cho hương vị ẩm thực Thái Bình, thì hiện tại chưa có cách bảo tồn nào tốt hơn là giữ cho môi trường được trong sạch.

Nguyễn Lan

Rộn Ràng Mùa Rươi Xã Hồng Tiến, Huyện Kiến Xương

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực |

“Tháng chín đôi mươi, tháng mười mùng năm”, đó là mùa rươi. Rươi chỉ xuất hiện có vài lần trong một năm mà mỗi lần chỉ có vài ngày là hết. Rươi là món ăn quý nhưng không kiểu cách, sang trọng như nem công chả phượng mà quý bởi người ta ít khi được thưởng thức một món lạ như thế…

Nắng mưa là chuyện của trời. Quả thật, khi trời vào thu thời tiết đỏng đảnh như một cô con gái đến tuổi cập kê. Đang nắng đẹp trời bỗng đổ mưa, cái lạnh tràn về như đông sắp sang. Ấy thế nhưng chỉ một hai hôm là cùng, trời lại nắng lên đem theo cái hanh hao của mùa thu, mùa rươi lại về!

Hàng năm, cứ đến thời điểm cuối thu, đầu đông, khi những cơn gió mang cái lạnh se se thổi về, người dân ở một số vùng cửa sông đồng bằng Bắc bộ lại đón chờ mùa rươi. Mùa rươi rất ngắn ngủi, mỗi năm xuất hiện một lần vào cuối tháng Chín đầu tháng Mười âm lịch. Rươi có nhiều ở các vùng nước lợ ven cửa sông các tỉnh Thái Bình, Nam Định và thành phố Hải Phòng. Cách rươi xuất hiện cũng rất lạ, thất thường, khi có khi không, kể cả những người dân địa phương đã từng vớt rươi hàng chục năm cũng không sao lý giải được.


Có khi đến ngày rươi nổi mà chờ hoài vẫn không thấy, vậy mà khi rươi xuất hiện, nếu không nhanh tay vớt, chỉ vài giờ là chúng biến mất tăm, không để lại “dấu vết” gì. Rươi quý hiếm là vì vậy. Nhìn hình dáng rươi, không ít người cảm thấy sợ, thế nhưng khi được chế biến, lại trở thành món đặc sản thơm ngậy, ăn rồi nhớ mãi. Hồng Tiến là xã thuộc vùng sâu, vùng xa huyện Kiến Xương với 6 thôn, trên 6.000 khẩu. Ðặc thù nhất ở Hồng Tiến là có nghề đánh bắt thủy hải sản truyền thống ở làng chài Cao Bình.

Về Hồng tiến thời điểm này đang rộn ràng thu hoạch mùa rươi. Trước đây rươi thu hoạch được bao nhiêu là bán hết ra thị trường bấy nhiêu, nhưng ngày nay do nhu cầu thưởng thức của người Việt rươi đã được vận chuyển đi nhiều tỉnh thành trong cả nước. Vài năm trở lại đây rươi rất hiếm là do các lái buôn Trung Quốc thu mua số lượng lớn. Những người dân trong tỉnh muốn mua được rươi cũng phải đi các chợ lớn và đi sớm,có nhiều người” mê” rươi còn mua về bảo quản đông lạnh bởi rươi không phải ngày nào cũng có.

Con rươi trông gần giống một con đỉa lai con rết bởi vì cái thân hình nhũn nhũn nhưng rất nhiều chân của nó. Khi sống rươi mềm mềm đủ mầu xanh, đỏ, vàng, xám vằn vện trong lớp nhớt quánh như hồ và sặc mùi tanh tanh đến khó chịu. Thế mà lạ thật, cái con vật xấu xí “đáng sợ” ấy khi đã qua bàn tay khéo léo của các bà nội trợ lại trở thành “đặc sản” thơm ngon khó quên. Rươi mua về, để trở thành món ngon phải qua nhiều khâu quan trọng, nhất là lúc làm lông. Để rươi sạch, hết mùi tanh người ta phải dùng nước nóng đun sôi, đổ rươi vào khuấy đều, nhặt sạch rác rồi rửa lại nhiều lần cho thật sạch. Khi rươi đã ráo nước là có thể chế biến. Thường thì ta vẫn quen thưởng thức mấy món chính là chả rươi, rươi hấp, rươi xào, rươi kho và rươi đúc với trứng. Món rươi hấp có vị thanh vì không dùng mỡ để trộn, món rươi kho đậm đà, kiểu cách. Nhưng có lẽ món chả rươi thơm nức mũi vẫn được người ta ưu ái hơn cả. Rươi sau khi làm sạch sẽ được trộn với thịt băm, trứng, thì là, thêm vài lát vỏ quýt băm nhỏ rồi cho lên rán vàng. Món rươi phải ăn lúc nóng đến bỏng lưỡi, kèm theo ít hạt tiêu, rau cũng đủ chiều lòng những ai “khó tính”.

Rươi được chế biến nhiều món ngon khác nhau, mỗi món đều có sự hấp dẫn riêng nhờ tài chế biến trong việc kết hợp các loại gia vị của các bà nội trợ. Nhưng rươi ăn kiểu gì cũng không được thiếu vỏ quýt (trần bì). Mùa rươi cũng là mùa quýt. Hai thứ ấy bén duyên nhau khăng khít lắm. Vỏ quýt thơm hăng hăng dễ chịu làm dậy lên mùi thơm của rươi, mất đi cái độc của con rươi. Một thứ dân dã đồng quê, một thứ đặc sắc dưới nước cùng kết hợp tạo nên khúc biến tấu tuyệt vời trong văn hóa ẩm thực. Thiếu đi vỏ quýt, món rươi cũng giống như một bông hoa đẹp không hương, một người đàn bà đẹp vô duyên, nhạt nhẽo vô cùng. Và món rươi nếu thiếu đi vị cay cũng làm cho món ăn trở nên hụt hẫng. Ớt chính là chất xúc tác đẩy hương vị rươi nổi lên một cách độc đáo, làm cho món rươi đạt đến sự tinh tế nhất có thể, ngọt, béo đủ vừa, ngạt ngào ý nhị. Chẳng biết từ lúc nào, rươi gắn với văn hóa ẩm thực của người dân trong tỉnh, trở thành ẩm thực bình dân tinh tế, đậm đà.

Nguyễn Lan

Bánh Cuốn Nhân Tôm Tại Golden Hotel

by Golden Hotel |24 Tháng Mười, 2020 |0 Comments | Tin Tức Và Ẩm Thực | ,

Nói không ngoa, chứ bây giờ cứ ra khỏi ngõ là y như rằng đụng ngay vô số quán xá với những lời đon đả: Kính mời, xin mời!… Món nóng, món nguội, món Tây, món Tàu ngay cả những món chay dành riêng cho phái Thiền hễ cần là có tuốt. Thế là về ẩm thực, xã hội đã có một bước đủ dài rồi còn gì.

Vậy mà chẳng hiểu sao trong tôi lại nảy ra tật “dị ứng” với cái thế giới đồ ăn, thức uống vừa đắt tiền vừa hào nhoáng, màu mè xanh đỏ kia. Không hẳn là quay lưng lại hiện hữu, nhưng thực tình cứ da diết luyến nhớ phong vị ăn uống truyền đời nơi cố hương, trong đó phải kể đến món “bánh cuốn nhân tôm”.

Nhiều người cả quyết: Bánh cuốn ở đâu mà chẳng có! Đúng vậy. Bánh tráng ra mỏng dính, trắng mịn, xứng đáng tôn là cao tay rồi đấy. Nhưng xin thưa, mới thế thôi chớ vội khen là bánh ngon. Bánh ngon hay không lại tùy thuộc hai yếu tố khác cơ: Nhân và nước chấm. May thay hai yếu tố này cầm chắc chỉ ở làng biển Diêm Điền quê tôi mới hội đủ.

Thịt băm nhỏ pha những lát hành mỏng đã chiên giòn thơm phức dùng làm nhân, đĩa bánh bóng nhẫy mỡ ai nhìn cũng thấy hưng phấn nơi đầu lưỡi. Bánh cuốn kiểu này chắc chắn người Diêm Điền dễ dàng từ chối vì ăn mấy miếng là chán ngấy. Ở đất này, bánh cuốn ngon đúng nghĩa phải là “Bánh cuốn nhân tôm”.

Tôm ở Diêm Điền (Thái Bình) quả là đa dạng: Tôm he, tôm vàng, tôm bộp, tôm lớt, tôm sắt, tôm lửa, tôm sú, tôm gai, tôm rảo, tôm dánh… Trong thế giới tôm phong phú chỉ con tôm vàng mới được người Diêm Điền tín nhiệm chọn làm nhân bánh cuốn. Tôm vàng vỏ mỏng tang như giấy bóng, thịt nhiều thơm ngon hết chê. Giá trị thương phẩm tôm vàng rất cao chỉ chịu xếp sau tôm he. Tôm vàng hiện nay nằm trong danh mục đặc sản biển ưu tiên dành cho xuất khẩu. Tôm vàng tươi, đồ chín tới. Bóc bỏ vỏ và đầu.

Băm kỹ tôm với hành củ, gấc và một lượng nhỏ thịt ba chỉ đã luộc chín. Pha thêm mộc nhĩ thái nhỏ rồi nêm nước mắm ngon. Khi xào tôm lưu ý để nhỏ lửa. Dùng đũa đảo đều để tôm rời và tránh khê. Nhớ rắc chút xíu hạt tiêu nhằm tăng thêm hương vị. Tôm nhân bánh phải rời, thơm và đỏ lựng màu gấc là đạt yêu cầu. Màu đỏ nhân tôm nổi giữa chiếc bánh trắng tinh mịn màng, “bánh cuốn nhân tôm” từng đồng hành cùng người Diêm Điền suốt đời này sang đời khác. Có bánh ngon nhưng lại vắng bóng nước chấm tốt được ví như chỉ độc phần “dương” mà thiếu hẳn phần “âm” chẳng thể gọi là trọn vẹn đâu nhé.

Pha món nước chấm bánh cuốn nhân tôm thực ra không cầu kỳ nhưng lại hết sức khắt khe. Khắt khe bởi phải tìm được nước mắm tôm nguyên chất chỉ ở vùng biển mới có. Sản xuất thứ nước mắm này phải qua một công đoạn khá cầu kỳ nên nó thuộc diện quý hiếm. Ngoài độ đạm rất cao, nước mắm này còn nổi tiếng bởi màu sắc vàng ươm như mật ong rất quyến rũ. Người Diêm Điền gọi nó bằng cái tên đặc trưng: “Nước mắm chắt”.

“Nước mắm chắt” vắt chanh rồi điểm xuyết những lát ớt tươi rực màu. Thế là có món nước chấm xứng đôi với “bánh cuốn nhân tôm” rồi đấy !

Bánh cuốn ấy kèm nước chấm ấy cứ gọi là ăn no vẫn còn thèm. Thưởng thức một lần xin cam đoan sẽ nhớ… trọn đời. Chả vậy mà ở Diêm Điền vẫn truyền tụng mãi câu ca về bánh cuốn nhân tôm, Bánh cuốn mà cuộn nhân tôm, Mới ăn buổi sớm đến hôm lại thèm!